Các chất lợi sữa (Galactogogues) kích thích phản ứng tăng tiết sữa

Galactogogues (Gr: galacto = sữa; agogue = gây) là một thuật ngữ y học được sử dụng để chỉ các chất kích thích sản xuất sữa. Có rất nhiều các thảo dược truyền thống chứa các hoạt chất có tác dụng dược lý hỗ trợ sản xuất prolactin và oxytocin, là 2 hormone kích thích sản xuất sữa, cũng như tác động lên tuyến vú để hỗ trợ tiết sữa.

ProLactation: 3 lợi ích quan trọng đối với sự sản xuất sữa

Mặc dù có những cách thông thường, chẳng hạn như bơm hút sữa – hỗ trợ cơ học để vắt sữa mẹ, nhu cầu cho các liệu pháp bổ sung và thay thế ngày càng tăng. ProLactation là một sản phẩm bổ sung mới với công thức chuyên biệt hỗ trợ sản xuất sữa cho phụ nữ cho con bú ngay sau khi sinh. Công thức thực sự không phải là mới. ProLactation kết hợp các chiết xuất từ thảo dược được sử dụng hàng ngàn năm qua trong y học cổ truyền Ấn Độ, Châu Á và Châu Âu với tác dụng lợi sữa. Các thành phần hoạt tính trong các loại thảo mộc có thể hỗ trợ sản xuất prolactin và oxytocin. Sự phối hợp này nhằm vào ba yếu tố trong sản xuất sữa mẹ:

Thành phần công thức ProLactation

Asparagus racemosus – Shatavari

Còn gọi là Thiên Môn Chùm (Shatavari), một loại cây leo đặc trưng của vùng Sri Lanka, Ấn Độ và dãy Himalaya.

Cơ chế

Chiết xuất rễ Shatavari được sử dụng hàng ngàn năm qua như một loại thảo dược có khả năng chống viêm, chống đầy hơi, lợi tiểu và tăng tiết sữa. Các ứng dụng về mặt      y học của loại cây này được ghi lại trong dược thư Anh Quốc và Ấn Độ, ngoài ra còn được sử dụng trong dược học cổ truyền của Ayurveda, Unani và Siddha. Các hoạt chất chính chiết xuất từ rễ khô bao gồm axit asparagusic, fructo- oligosaccharide, flavonoid và các asparagoside, một nhóm các hợp chất saponin steroid (chủ yếu là Shatavarin) có hoạt tính tương tự như phytoestrogen và các sterol khác chiết xuất từ thực vật. Các hợp chất này ảnh hưởng đến sự kiểm soát nội tiết và cận tiết trong quá trình hình thành và chức năng của tuyến vú, đẩy mạnh tiết prolactin, một hormone kích thích tuyến sữa và hoạt động của tuyến vú nói chung. Nếu kết hợp cho bé bú thường xuyên sẽ giúp mức prolactin đều và ổn định, duy trì lượng sữa. Rễ Shatavari cũng có tác dụng tốt để chống oxy hóa [12] và kháng vi sinh vật [13]. Ngoài ra, còn có tác dụng an thần, giảm căng thẳng và lo âu, có lợi cho những phụ nữ gặp khó khăn khi cho con bú

do các nguyên nhân tâm lý.

Bằng chứng

Gupta và Shaw [14] đã thực hiện một thử nghiệm ngẫu nhiên, mù đôi, có kiểm soát để đánh giá tác dụng của chiết xuất rễ Shatavari trên 60 phụ nữ gặp khó khăn trong việc tiết sữa (Hình 1). Các đối tượng nghiên cứu được cho sử dụng chiết xuất shatavari liều 60 mg/kg (~3.6 g/ngày, tương đương với 3 viên ProLactation) trong vòng 30 ngày. Kết thúc thử nghiệm, nồng độ prolactin huyết thanh ở người mẹ tăng hơn 20%, cân nặng tăng 2% (một dấu hiệu của việc tăng khối lượng tuyến vú) và cân nặng trẻ tăng 10% cho thấy sự phát triển của trẻ cũng tăng khi chất lượng  sữa được cải thiện. Một thử nghiệm lâm sàng trước đó đã không cho thấy sự khác biệt về nồng độ prolactin ở người mẹ hoặc các chỉ số trọng lượng sau khi uống một công thức được giữ bí mật (dạng lỏng) chứa 15% rễ Shatavari (tương đương ~3 g/ngày) [15]. Tuy nhiên, công thức này còn chứa 7% hỗn hợp của 6 thảo dược khác trong y học Ấn Độ cổ đại, điều này có thể làm giảm tác dụng của Shatavari. Mặc dù vậy, không có tác dụng bất lợi nào trên sức khỏe của trẻ hoặc làm trầm trọng hơn việc thiếu sữa sau thử nghiệm.

Theo hiệp hội các sản phẩm từ thảo dược Hoa Kỳ, rễ Shatavari được đánh giá là an toàn và hiệu quả trong việc tăng tiết sữa từ những năm 1960, không có chống chỉ định hoặc tương tác thuốc nào được thông báo [16]. 4 bằng chứng chính về tác dụng trên người của Shatavari được trích dẫn trong cẩm nang của hiệp hội đều có nguồn gốc từ Ấn Độ với thời gian sớm nhất là vào năm 1957.

Hình 1. Phản ứng của những người mẹ gặp khó khăn trong việc tiết sữa và trẻ sơ sinh sau khi được điều trị bằng chiết xuất Shatavari.

Silybum marianum – Milk Thisle

Còn được gọi là Kế sữa, St. Mary’s milk hoặc silymarum, là loài cây bản địa mọc trên các cánh đồng cỏ ở châu Âu, sinh trưởng trong khí hậu lạnh.

Cơ chế

Milk thistle được sử dụng hơn 2.000 năm qua trong y học   cổ truyền châu Âu với tác dụng tăng tiết sữa và bảo vệ gan. Chúng còn có tác dụng chống oxy hóa, chống viêm, chống ung thư, giải độc và hỗ trợ sức khỏe chung. Hoạt chất chính trong hạt của Kế sữa là các flavolignin, chủ yếu là silybin. Tác dụng tăng tiết sữa của silybin được cho là có liên quan đến tác dụng kích thích co bóp tử cung, hoặc các tác dụng kích thích prolactin để tạo sữa. Đối với phụ nữ đang cho con bú, Kế sữa giúp tăng cường cả về mặt chất lượng và số lượng sữa. Ngoài ra, chúng đặc biệt bởi tính an toàn, độ dung nạp tốt và gần như không có tác dụng phụ.

Bằng chứng

Có khoảng hơn 300 nghiên cứu về tác dụng của Silybin với các bệnh liên quan đến gan như nhiễm độc gan cấp tính, xơ gan và viêm gan. Đối với vấn đề tiết sữa, một thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng sử dụng liều 420 mg/ ngày vi nhũ tương của Silybum marianum (gần với mức liều tối đa 336 mg/ngày của ProLactation) [17], trên 50 phụ nữ Pê-ru khỏe mạnh trong 2 tháng. Trong khi không có dấu hiệu nội tiết nào đo được thì lại có sự khác biệt đáng kể trong số lượng sữa sản xuất ra ở nhóm được điều trị (Hình 2). Các thành phần dinh dưỡng trong sữa đã được đo và không có ảnh hưởng bất lợi nào trong hàm lượng chất béo, carbohydrate hay protein ở cả nhóm điều trị và nhóm chứng. Một nghiên cứu tương tự trên một nhóm nhỏ 5 phụ nữ cho thấy silybin xuất hiện trong sữa sau 5 ngày sử dụng, đồng nghĩa với hoạt động của chúng đúng với các quy chuẩn HPLC. Nhìn chung các đối tượng tham gia nghiên cứu tuân thủ điều trị hoàn toàn và không có tác dụng phụ nào được báo cáo.

Hình 2. Điều trị với mức liều 420 mg/ngày của vi nhũ tương Kế sữa giúp tăng lượng sữa lên hơn 50% [17].

Trigonella foenum-graecum – Fenugreek

Được biết đến nhiều nhất với tên fenugreek hoặc trigonella, thuộc họ đậu. Đây là loài thảo dược có nguồn gốc ở khu vực Địa Trung Hải, Nam Âu và Tây Á.

Cơ chế

Hạt của Fenugreek được sử dụng lần đầu tiên ở châu Âu và Trung Đông cổ đại bởi những người mẹ đang cho con bú nhưng tác dụng của nó chỉ mới được chứng minh khoa học vào những năm 1940. Vài ngày sau khi sử dụng, Fenugreek giúp tăng lượng sữa cũng như hiệu quả tiết sữa ở phụ nữ đang cho con bú được điều trị bằng các thang thuốc cổ truyền, đồng thời tăng tần suất cho con bú. Theo các chuyên gia, lượng sữa có thể tăng gấp 10 lần. Các phytoestrogen và saponin có trong hạt Fenugreek hoạt động để duy trì sự tăng sinh của tuyến vú. Hạt Fenugreek cũng được sử dụng để điều trị trào ngược dạ dày thực quản, tăng cholesterol máu, lo lắng, đau bụng kinh và đau ngực. Các tác dụng này có thể giúp các bà mẹ đang cho con bú duy trì chuyển hóa và trọng lượng cơ thể.

Bằng chứng

Theo một khảo sát gần đây trên 300 phụ nữ đang cho con bú và của hội đồng thực vật Hoa Kỳ [18, 19], Fenugreek là một trong những thảo dược được sử dụng phổ biến nhất ở Úc để tăng cường tiết sữa. Trà Fenugreek giúp tăng cường sản xuất sữa và cải thiện cân nặng của trẻ trong một nghiên cứu ở Iran [20]. Trong một bài phân tích gần đây, Forinash và cộng sự [21] đã tóm tắt các báo cáo cho thấy lượng  sữa tăng sau khi sử dụng Fenugreek dưới dạng trà hoặc nước sắc được điều chế bằng cách phương pháp y học. Các quan sát bao gồm 1 phản ứng tức thì với điều trị trong vòng 48-72 giờ sau khi dùng. Nghiên cứu của Swafford cho thấy lượng sữa tăng gấp đôi ở tuần thứ hai trên 10 bệnh nhân sau khi sử dụng Fenugreek khô [22]. Liều thực tế của Fenugreek khi sử dụng 3 viên/ngày không được tiết lộ. Một nghiên cứu lâm sàng khác được tiến hành trong vòng 30 ngày so sánh tác dụng của chiết xuất hạt Fenugreek (1800 mg/ngày) với món canh nấu với lá torbangun, một loại canh được sử dụng để tăng cường sản xuất sữa ở Indonesia [23]. Trong 75 phụ nữ đang cho con bú bị giảm sản xuất sữa, sau khi bổ sung hỗn hợp chứa vitamin B12 trong khi Fenugreek giúp tăng sản xuất sữa 5-15% phần lớn trong tháng đầu tiên.

Vaccaria segatalis – Cowherb

Cowherb là cây sống quanh năm trên đồng cỏ châu Á. Hoa có màu hồng nhạt trong suốt những tháng hè.

Cơ chế và Bằng chứng

Theo các chuyên gia y học cổ truyền ở Trung Á và Đông Nam Á, Vaccaria segatalis được sử dụng với mục đích chống viêm, làm lành vết thương, tăng sản xuất và thông ống dẫn sữa. Vaccaria segatalis được đề cập trong dược thư Trung Quốc dưới cái tên “Vương Bất Lưu Hành”, với một trong các tác dụng được công nhận là hỗ trợ tiết sữa [24]. Các mục tiêu điều trị của thảo dược này chủ yếu      là đau bụng kinh, bế kinh, áp xe vú, không có sữa/giảm tiết sữa. Ngoài ra Vaccaria segatalis cũng có lợi cho các trường hợp bí tiểu hoặc tiểu ít cũng như giúp duy trì cân bằng hormone.

Đặc tính tăng tiết sữa của cowherb đến từ các chất segetalin [25], đây là các chất thuộc nhóm sapoin triterpenoid với tác dụng tương tự như estrogen hỗ trợ phát triển tuyến vú. Segetalin là các peptide có cấu trúc phức tạp, độc đáo, khác biệt đôi chút so với các hợp chất được chiết xuất từ thực vật khác. Segelatin mang lại tác dụng tương tự như oxytocin, hormone kích thích sự co thắt cơ ở các ống tuyến vú, do đó tham gia vào cả quá trình tạo sữa và tiết sữa. Các bằng chứng trên mô hình in vitro gần đây cho thấy chiết xuất từ Vaccaria segatalis giúp tăng cường tổng hợp protein trong sữa, tăng cường điều hòa biểu hiện của các gen p-STAT5, p100, GAS, S6K1 và p-mTOR mã hóa cho các protein tham gia truyền tín hiệu liên quan đến sản xuất sữa ở bò [26].

Quan điểm của chuyên gia dược học cổ truyền về ProLactation

Sự kết hợp của các thảo dược trong công thức ProLactation nhằm giải quyết các triệu chứng chính của thiếu sữa. Đồng thời, ProLactation cũng tập trung vào các triệu chứng thứ phát gây ra do suy giảm chức năng các cơ quan nội tạng khác, thông qua sự tương thích giữa bên trong-bên ngoài hoặc sự tương thích của ngũ hành. Sự kết hợp của các thảo dược được thiết kế nhằm mục đích tăng cường tác dụng của thành phần chính (Milk thistle), hỗ trợ hoạt chất trong việc giảm tổn thương các cơ quan nội tạng, thông kinh lạc, và điều hòa chức năng của tất cả các thành phần.

Mặc dù không phải là thuốc điều trị thường dùng, với quan điểm là một công thức điều trị hỗ trợ dựa trên rất nhiều bằng chứng được ghi lại, mỗi thành phần trong ProLactation đều mang một vai trò cụ thể trong việc tiết sữa, mặc dù không phải trong quan điểm y khoa:

  • Silybum marianum (“Quân”): Tác dụng điều hòa khí huyết, tạo máu, điều hòa dòng máu và cầm máu, giảm ứ máu, giảm đau, loại bỏ các khối u, cải thiện chức năng miễn dịch của cơ thể, ức chế sự hình thành các gốc tự Tóm lại, Silybum marianum giúp bổ máu và mang lại lợi ích trong việc sản xuất máu.
  • Trigonella foenum-graecum (“Thần”): Hỗ trợ “Quân” trong việc sản xuất dịch của cơ thể, giảm khát nước, giảm táo bón, giảm đau, giảm khô miệng, thở dốc, ngứa ngáy, vàng da, chống viêm, có lợi đối với bệnh trĩ, rò hậu môn, giúp thông kinh lạc, bổ máu, tăng cường hấp thu và ngon miệng hơn, v.
  • Asparagus racemosus và Vaccaria  segatalis  (“Tá”  và “Sứ”): Hỗ trợ lưu thông máu, giúp tăng cường giải phóng năng lượng, cân bằng hormone, tăng cường tiết sữa nhằm chống viêm, chữa lành vết thương và tăng cường chất lượng sữa.

* Ghi chú: Trong thực hành y học cổ truyền, nhận ra rằng các loại thảo mộc hiếm khi được kê đơn chỉ mình nó, và nhiều loại thảo mộc hoạt động như một thành phần hỗ trợ cùng với các thành phần khác.

TÓM TẮT

Dựa trên sự kết hợp giữa kinh nghiệm Y học cổ truyền lâu đời và khoa học lâm sàng hiện đại, ProLactation là một công thức gồm các thảo dược chọn lọc giúp phụ nữ đang cho con bú cải thiện sản xuất, chất lượng và hiệu quả của sữa. Ngoài ra, ProLactation giúp ngăn ngừa các hội chứng hậu sản, kích thích mau liền vết thương, cải thiện nước da, cũng như giúp ăn ngon, ngủ khỏe và tinh thần minh mẫn

Tài liệu tham khảo

  1. Picciano, M.F., Human milk: nutritional aspects of a dynamic food. Biol Neonate, 1998. 74(2): p. 84-93.
  2. Bhutta, Z.A., et al., What works? Interventions for maternal and child undernutrition and survival. Lancet, 2008. 371(9610): p. 417-40.
  3. Scott, J.A., S.Y. Ng, and L. Cobiac, The relationship between breastfeeding and weight status in a national sample of Austra- lian children and adolescents. BMC Public Health, 2012. 12: 107.
  4. CG, V., Growth patterns of breastfed infants in seven countries. Acta Paediatr, 2000. 89(2): p. 215-22.
  5. Hanson, L.A., Breastfeeding provides passive and likely long-lasting active immunity. Ann Allergy Asthma Immunol, 1998. 81(6): p. 523-33; quiz 533-4, 537.
  6. Hylander, M.A., D.M. Strobino, and R. Dhanireddy, Human milk feedings and infection among very low birth weight in- fants. Pediatrics, 1998. 102(3): p. E38.
  7. Wilczynski, J., et al., [Breast feeding for prevention of viral acute respiratory diseases in infants]. Med Dosw Mikrobiol, 1997. 49(3-4): p. 199-206.
  8. Deoni, S.C., et al., Breastfeeding and early white matter de- velopment: A cross-sectional study. Neuroimage, 2013. 82: p. 77-86.
  9. Whitehouse, A.J., et al., Duration of breast feeding and lan- guage ability in middle childhood. Paediatr Perinat Epidemiol, 2011. 25(1): p. 44-52.
  10. SBS, “It’s like a black market”: Women chase the breast med- icine. The Feed: current affairs program, Special Broadcasting Service, 2016.
  11. Li, R., et al., Why mothers stop breastfeeding: mothers’ self-re- ported reasons for stopping during the first year. Pediatrics, 2008. 122 Suppl 2: p. S69-76.
  12. Visavadiya, N.P., et al., Suppression of reactive oxygen species and nitric oxide by Asparagus racemosus root extract using in vitro studies. Cell Mol Biol (Noisy-le-grand), 2009. 55 Suppl: p. OL1083-95.
  13. Potduang, B., et al., Biological activities of Asparagus racemo- sus. Afr J Tradit Complement Altern Med, 2008. 5(3): p. 230-7.
  14. Gupta, M. and B. Shaw, A Double-Blind Randomized Clinical Trial for Evaluation of Galactogogue Activity of Asparagus rac- emosus Willd. Iran J Pharm Res, 2011. 10(1): p. 167-72.
  15. Sharma, S., et al., Randomized controlled trial of Asparagus racemosus (Shatavari) as a lactogogue in lactational inadequa- cy. Indian Pediatr, 1996. 33(8): p. 675-7.
  16. Gardner, Z. and M. MacGuffin, Asparagus racemosus Willd., in American Herbal Products Association’s Botanical Safety Handbook, Z. Gardner and M. MacGuffin, Editors. 2013, CRC Press. p. 106-107.
  17. Di Pierro, F., et al., Clinical efficacy, safety and tolerability of BIO-C (micronized Silymarin) as a galactagogue. Acta Biomed, 2008. 79(3): p. 205-10.
  18. Sim, T.F., et al., Perspectives and attitudes of breastfeeding women using herbal galactagogues during breastfeeding: a qualitative study. BMC Complement Altern Med, 2014. 14: p. 216.
  19. Garner-Wizard, M., et al., Studies Needed on Herbs Long Used to Stimulate Milk Production, in HerbClip. 2009.
  20. Turkyilmaz, C., et al., The effect of galactagogue herbal tea on breast milk production and short-term catch-up of birth weight in the first week of life. J Altern Complement Med, 2011. 17(2): p. 139-42.
  21. Forinash, A.B., et al., The use of galactogogues in the breast- feeding mother. Ann Pharmacother, 2012. 46(10): p. 1392-404.
  22. Swafford, S. and P. Berens. Effect of fenugreek on breast milk volume. in Academy of breastfeeding medicine Fifth Annual Meeting 2000. Tuscon, Arizona, USA.
  23. Damanik, R., M.L. Wahlqvist, and N. Wattanapenpaiboon, Lac- tagogue effects of Torbangun, a Bataknese traditional cuisine. Asia Pac J Clin Nutr, 2006. 15(2): p. 267-74.
  24. Li, X., Chinese Materia Medica: Combinations and Applica- tions. 2002.
  25. Itokawa, H., et al., Estrogen-like activity of cyclic peptides from Vaccaria segetalis extracts. Planta Med, 1995. 61(6): p. 561-2.
  26. Meng, H.Y. 2013; Available from: http://en.cnki.com.cn/Arti- cle_en/CJFDTOTAL-GWXK201304029.htm

Bài viết liên quan